Giáo dục

Phép biện chứng duy vật là gì?

Cùng Mầm Non Ánh Dương tìm hiểu phép biện chứng duy vật là gì? 2 nguyên lý, 6 cặp phạm trù và 3 quy luật của phép biện chứng duy vật, ví dụ phép biện chứng duy vật trong thực tiễn,…

Phép biện chứng duy vật là một bộ phận lý luận cơ bản hợp thành thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác – Lênin. Nó được xem là lý luận nhận thức khoa học và được nghiên cứu rộng rãi. Để hiểu rõ hơn khái niệm phép biện chứng duy vật là gì? Nội dung (2 nguyên lý, 6 cặp phạm trù và 3 quy luật) cơ bản của phép biện chứng duy vật, các bạn hãy cùng Mầm Non Ánh Dương theo dõi bài viết dưới đây nhé.

This post: Phép biện chứng duy vật là gì?

Khái niệm biện chứng và phép biện chứng

Khái niệm biện chứng được dùng để chỉ những mối liên hệ, tương tác, chuyển hóa hoặc vận động phát triển theo quy luật của các sự vật, hiện tượng, quá trình trong tự nhiên, xã hội và tư duy.

Biện chứng bao gồm hai loại là biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan.

  • Biện chứng khách quan: Là khái niệm dùng để chỉ biện chứng của bản thân thế giới, tồn tại khách quan, độc lập với ý thức của con người. Nói một cách ngắn gọn, biện chứng khách quan là biện chứng của thế giới vật chất.
  • Biện chứng chủ quan: Là khái niệm dùng để chỉ biện chứng của sự thống nhất giữa logic biện chứng, phép biện chứng và lý luận nhận thức. Là tư duy biện chứng và biện chứng của chính quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc của con người. Do đó, biện chứng chủ quan một mặt phản ánh thế giới khách quan, mặt khác phản ánh những quy luật của tư duy biện chứng. Nói một cách ngắn gọn, biện chứng chủ quan là biện chứng của tư duy, là sự phản ánh biện chứng khách quan vào đầu óc, ý thức của con người.

Sự khác nhau giữabiện chứng chủ quan và biện chứng khách quan thể hiện ở chỗ biện chứng khách quan là cái vốn có của bản thân sự vật, hiện tượng, quá trình, tồn tại độc lập với ý thức của con người. Còn biện chứng chủ quan là sự phản ánh biện chứng khách quan. Tức là biện chứng của các sự vật, hiện tượng, quá trình vào trong bộ óc của con người. Biện chứng khách quan của bản thân đối tượng được phản ánh quy định biện chứng chủ quan. Mặt khác, biện chứng chủ quan có tính độc lập tương đối so với biện chứng khách quan.

phep_bien_chung_duy_vat_la_gi_luanvan2s
Khái niệm biện chứng và phép biện chứng

Phép biện chứng: Là học thuyết nghiên cứu, khái quát biện chứng của thế giới thành các nguyên lý, quy luật khoa học nhằm xây dựng phương pháp luận khoa học. Hay nói cách khác, phép biện chứng được hiểu là khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển trong tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy.

Phép biện chứng gồm 3 hình thức cơ bản gồm: Phép biện chứng chất phác cổ đại, phép biện chứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức và phép biện chứng duy vật do Mác, Ăngghen sáng lập và sau đó được Lênin phát triển. Trong bài viết này, chúng ta sẽ chỉ tập trung tìm hiểu về phép biện chứng duy vật.

Phép biện chứng duy vật là gì? Ví dụ phép biện chứng duy vật? Các giai đoạn phát triển của phép biện chứng duy vật

Định nghĩa phép biện chứng duy vật

Định nghĩa về phép biện chứng duy vật, Ăngghen cho rằng: Phép biện chứng duy vật là môn khoa học về những quy luật phổ biến về sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy con người.

Ví dụ phép biện chứng duy vật

Một số ví dụ về phương pháp luận biện chứng:

+ Hiện tượng mưa là do hơi nước bốc hơi lên tạo thành các đám mây, khi quá nhiều nước trong mây, mây sẽ chuyển màu đen và hạt mưa rơi xuống

+ Một viên phấn dưới tác dung lực cơ học thi sau khi viết viên phấn sẽ bị mài mòn đi không còn hình dạng như trước nữa. Dưới tác dụng hoá học sẽ bị ăn mòn dần … nên theo thời gian viên phấn sẽ không còn như trước nữa.

+ Con người có nguồn gốc từ loài vượn, sau khoảng thời gian dài tiến hóa thì dần hoàn thiện và phát triển, không phải con người là tự nhiên mà xuất hiện, do trời đất hay bất kỳ ai tạo ra.

Các giai đoạn phát triển của phép biện chứng duy vật

Cùng với sự phát triển của tư duy con người, phương pháp biện chứng đã qua ba giai đoạn phát triển, được thể hiện trong triết học với ba hình thức lịch sử của nó: phép biện chứng tự phát, phép biện chứng duy tâm và phép biện chứng duy vật.

+ Phép biện chứng tự phát thời cổ đại.

Các nhà biện chứng cả phương Đông lẫn phương Tây thời kỳ này đã thấy các sự vật, hiện tượng của vũ trụ sinh thành, biến hóa trong những sợi dây liên hệ vô cùng tận.

Tuy nhiên, những gì các nhà biện chứng hồi đó thấy được chỉ là trực kiến, chưa phải là kết quả của nghiên cứu và thực nghiệm khoa học.

+ Phép biện chứng duy tâm.

Đỉnh cao của hình thức này được thể hiện trong triết học cổ điển Đức, người khởi đầu là I. Kant và người hoàn thiện là Hêghen.

Có thể nói, lần đầu tiên trong lịch sử phát triển của tư duy nhân loại, các nhà triết học Đức đã trình bày một cách có hệ thống những nội dung quan trọng nhất của phương pháp biện chứng.

Song theo họ biện chứng ở đây bắt đầu từ tinh thần và kết thúc ở tinh thần, thế giới hiện thực chỉ là sự sao chép ý niệm nên biện chứng của các nhà triết học cổ điển Đức là biện chứng duy tâm.

+ Phép biện chứng duy vật.

Phép biện chứng duy vật được thể hiện trong triết học do C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng, sau đó được V.I.Lênin phát triển.

C.Mác và Ph.Ăngghen đã gạt bỏ tính chất thần bí, kế thừa những hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng duy tâm để xây dựng phép biện chứng duy vật với tính cách là học thuyết về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển dưới hình thức hoàn bị nhất.

Đặc trưng và vai trò của phép biện chứng duy vật là gì?

Đặc trưng của phép biện chứng duy vật

Phép biện chứng duy vật có hai đặc trưng cơ bản, cụ thể như sau:

  • Thứ nhất, phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác- Lênin là phép biện chứng được hình thành dựa trên nền tảng của thế giới quan duy vật khoa học. Đây là điểm khác biệt về trình độ phát triển so với các tư tưởng biện chứng đã có trong lịch sử triết học.
  • Thứ hai, trong phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác- Lênin có sự thống nhất giữa nội dung thế giới quan và phương pháp luận nên nó không dừng lại ở sự giải thích thế giới mà còn được dùng làm công cụ để nhận thức và cải tạo thế giới.

Vai trò của phép biện chứng duy vật

Phép biện chứng duy vật đóng vai trò là một nội dung đặc biệt quan trọng trong thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác- Lênin và cũng là thế giới quan và phương pháp luận chung nhất của hoạt động sáng tạo trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học.

vai_tro_cua_phep_bien_chung_duy_vat_la_gi_luanvan2s
Vai trò của phép biện chứng duy vật là gì?

2 Nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật

Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

Nội dung: Cơ sở của mối liên hệ phổ biến chính là tính thống nhất vật chất của thế giới. Theo đó, các sự vật hay hiện tượng trong thế giới dù có đa dạng và khác nhau như thế nào thì cũng chỉ là những dạng cụ thể khác nhau của một thế giới vật chất duy nhất. Các mối liên hệ này có tính khách quan, tính phổ biến và đa dạng, chúng có những vai trò khác nhau trong việc quy định sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng.

Phương pháp luận: Từ việc nghiên cứu về nguyên lý này chúng ta rút ra quan điểm toàn diện trong việc nhận thức và trong hoạt động thực tiễn. Cần chú ý rằng, mọi sự vật đều tồn tại trong không gian và thời gian nhất định, mang những dấu ấn của không gian và thời gian. Vì vậy, để giải quyết các vấn đề do thực tiễn đặt ra cần có quan điểm lịch sử cụ thể để xem xét và giải quyết.

Nguyên lý về sự phát triển

Nội dung: Nguyên lý này chỉ rõ ràng phát triển là một trường hợp đặc biệt của vận động.

Phương pháp luận: Tự nhiên, xã hội và tư duy đều thuộc quá trình vận động và không ngừng phát triển. Bản chất khách quan này đòi hỏi chúng ta cần có quan điểm phát triển để phản ánh đúng hiện thực khách quan.

Khái quát ý nghĩa phương pháp luận được rút ra từ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển, nghĩa là phương pháp biện chứng trong nhận thức và hoạt động thực tiễn.

6 Cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật

6_cap_pham_tru_co_ban_cu_phep_bien_chung_duy_vat_luanvan2s6 Cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật

Cái riêng, cái chung và cái đơn nhất

Nội dung: Cái riêng chỉ một sự vật,hiện tượng nhất định và cái đơn nhất. Cái chung là phạm trù dùng để chỉ những mặt hoặc thuộc tính lặp lại trong nhiều sự vật,nhiều hiện tượng. Cái đơn nhất là phạm trù dùng để chỉ những mặt, đặc điểm chỉ có ở một sự vật, hiện tượng nào đó mà không xuất hiện tại các sự vật, hiện tượng khác.

Phương pháp luận:

Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng và thông qua cái riêng nên để tìm cái chung cần xuất phát từ nhiều cái riêng và thông qua cái riêng. Trong hoạt động thực tiễn cần lưu lý, nắm được cái chung chính là chìa khóa để giải quyết cái riêng.Không nên tuyệt đối hóa cái chung và cũng không nên tuyệt đối hóa cái riêng. Khi vận dụng cái chung vào cái riêng cần xuất phát, căn cứ từu cái riêng mà áp dụng để tránh giáo điều, cứng nhắc. Trong hoạt động thực tiễn, cần tạo điều kiện cho cái đơn nhất có lợi cho con người trở thành cái chung và ngược lại.

Cặp phạm trù về nguyên nhân và kết quả

Nội dung:  Nguyên nhân là sự tương tác qua lại giữa các mặt trong một sự vật hoặc hiện tượng hoặc giữa các sự vật và hiện tượng với nhau từ đó tạo nên những biến đổi nhất định. Kết quả là những biến đổi xuất hiện do sự tác động qua lại giữa các mặt, các yếu tố trong sự vật,hiện tượng.

Phương pháp luận: Mọi sự vật, hiện tượng đều có nguyên nhân xuất hiện, tồn tại và suy vong nên không có vấn đề có hay không có nguyên nhân của sự vật, hiện tượng mà là nguyên nhân ấy đã được phát hiện hay chưa mà thôi. Mối liên hệ giữa nguyên nhân và kết quả mang tính tất yếu, có thể dựa vào liên hệ nhân quả để hành động.

Cặp phạm trù tất nhiên và ngẫu nhiên

Nội dung: Tất nhiên do mối liên hệ về bản chất, do những nguyên nhân cơ bản bên trong của sự vật hoặc hiện tượng quy định và trong những điều kiện nhất định phải xảy ra đúng như thế chứ không thể khác. Ngẫu nhiên do mối liên hệ không bản chất, do những nguyên nhân hoặc hoàn cảnh bên ngoài quyết định, có thể xuất hiện hoặc không và có thể xuất hiện thế này hoặc thế khác.

Phương pháp luận: Vì cái tất nhiên là cái trong những điều kiện nhất định phải dứt khoát xảy ra và phải xảy ra đúng như vậy chứ không thể khác đi được. Cái ngẫu nhiên có thể xảy ra cũng có thể không, xảy ra như thế này hoặc xảy ra như thế khác. Do đó, trong thực tiễn cần dựa vào cái tất nhiên chứ không thể dựa vào cái ngẫu nhiên.

Cặp phạm trù nội dung và hình thức

Nội dung: Nội dung là tổng hợp tất cả những mặt và yếu tố tạo nên sự vật hiện tượng. Hình thức được hiểu là phương thức tồn tại và phát triển của sự vật hiện tượng, là hệ thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các sự vật, hiện tượng.

Cặp phạm trù này có mối liên hệ qua lại, quy định lẫn nhau mà trong đó, nội dung giữ vai trò quyết định.

Phương pháp luận: Giữa nội dung và hình thức có mối liên hệ chặt chẽ với nhau nên trong hoạt động thực tiễn cần chống lại sự tách rời giữa nội dung và hình thức

Cặp phạm trù bản chất và hiện tượng

Nội dung: Bản chất là tổng hợp tất cả những mặt, những mối liên hệ tất nhiên nhiên tương đối ổn định bên trong, quy định sự tồn tại, vận động và phát triển của sự vật. Hiện tượng là những biểu hiện về bên ngoài của sự vật.

Cặp phạm trù này có mối liên hệ biện chứng với nhau, bản chất và hiện tượng luôn thống nhất với nhau.

Phương pháp luận: Vì bản chất là cái tất nhiên và tương đối ổn định bên trong sự vật, quyết định đến sự vận động và phát triển của sự vật còn hiện tượng là biểu hiện ra bên ngoài của bản chất, không ổn định và biến đổi nhanh hơn so với bản chất.

Cặp phạm trù khả năng và hiện thực

Nội dung: Khả năng là cái chưa xảy ra nhưng sẽ xảy ra khi có điều kiện thích hợp. Hiện thực là cái đang có và tồn tại thực sự. Khả năng và hiện thực có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng.

Phương pháp luận: Vì hiện thực là cái tồn tại thực sự còn khả năng là cái hiện chưa có nên cần dựa vào hiện thực chứ không thể dựa vào khả năng. Vì khả năng do sự vật gây nên và tồn tại trong sự vật nên có thể tìm các khả năng phát triển ngay trong bản thân sự vật đó. Bản thân của mỗi khả năng luôn thay đổi dựa vào sự biến đổi của sự vật trong điều kiện cụ thể. Để cho khả năng trở thành hiện thực cần không chỉ một mà là một tập hợp nhiều điều kiện.

3 Quy luật cơ bản của phép duy vật biện chứng

Phép duy vật biện chứng có 3 quy luật cơ bản, bao gồm:

Quy luật thứ nhất: Quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành thay đổi về chất và ngược lại

Quy luật này là quy luật về phương thức chung của quá trình vận động, phát triển trong tự nhiên, xã hội và tư duy.

Nội dung: sự thống nhất về lượng và chất trong sự vật tạo thành độ của sự vật. Những thay đổi về lượng dần đạt đến giới hạn nhất định sẽ xảy ra bước nhảy khiến chất cũ bị phá vỡ và chất mới được tạo thành.

Quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng sẽ dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại đã chỉ ra cách thức vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng.

Ý nghĩa: Muốn có sự thay đổi về chất phải tích lũy về lượng, không được nóng vội,chủ quan. Khi sự tích lũy về lượng đã đủ cần thực hiện bước nhảy tránh bảo thủ, trì trệ. Cần phân biệt và vận dụng sáng tạo bước nhảy. Để sự vật còn là nó phải nhận thức được độ của nó và không để lượng thay đổi vượt qua giới hạn độ. Khi chất mới được ra đời cần xác định quy mô và tốc độ phát triển mới về lượng.

Quy luật thứ hai: Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập

Nội dung: Mọi sự vật, hiện tượng đều chứa đựng những mặt, những khuynh hướng đối lập và tạo thành những mâu thuẫn trong bản thân nó. Sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập tạo thành xung lực nội tại của sự vận động và phát triển, dẫn đến việc cái cũ mất đi và cái mới được hình thành.

Ý nghĩa: Cần phải thấy được động lực phát triển của sự vật xuất phát từ những mâu thuẫn trong bản thân nó. Việc nhận thức mâu thuẫn là điều cần thiết và phải khách quan. Trong hoạt động thực tiễn, phải xác định được trạng thái chín muồi của mâu thuẫn để kịp thời giải quyết.

Mâu thuẫn chỉ được giải quyết khi có điều kiện chín muồi, cho nên không được nóng vội giải quyết khi chưa có điều kiện chín muồi và không để việc giải quyết mâu thuẫn diễn ra một cách tự phát.

Quy luật thứ ba: Quy luật phủ định của phủ định

Nội dung: Phủ định của phủ định là khái niệm được dùng để chỉ sự vận động, phát triển của sự vật thông qua hai lần phủ định biện chứng, kết quả là quay trở lại điểm xuất phát ban đầu nhưng cao hơn. Phủ định lần thứ nhất khiến cho sự vật cũ trở thành cái đối lập của mình. Những lần phủ định tiếp theo sẽ hình  thành sự vật mới mang những đặc trưng của sự vật ban đầu nhưng trên cơ sở cao hơn.

Sự phủ định của phủ định là giai đoạn kết thúc của một chu kỳ phát triển và đồng thời cũng là điểm xuất phát của một chu kỳ phát triển tiếp theo tạo ra đường xoáy ốc của sự phát triển. Mỗi trường mới của đường xoáy ốc thể hiện một trình độ cao hơn của sự phát triển.

Trong thực tế, mỗi chu kỳ phát triển của sự vật có thể gồm nhiều lần biện chứng.

Ý nghĩa: Đây là cơ sở để hiểu sự ra đời của cái mới và mối liên hệ giữa cái cũ và cái mới. Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn cần chống thái độ phủ định sạch trơn và phải biết sàng lọc những gì tích cực của cái cũ. Phát triển không phải là đường thẳng mà theo đường xoáy ốc đi lên, tức là có nhiều khó khăn phức tạp trong quá trình vận động phát triển.

Trong bài viết này, Mầm Non Ánh Dương đã giúp các bạn hiểu rõ hơn về khái niệm phép biện chứng duy vật là gì? Nội dung cơ bản: 2 nguyên lý, 6 cặp phạm trù và 3 quy luật của phép biện chứng duy vật. Hy vọng với những chia sẻ này, bạn đọc sẽ có cái nhìn sâu sắc nhất về phạm trù triết học tương đối trừu tượng này, và biết cách vận dụng nó thích hợp trong học tập, cuộc sống.

Bản quyền bài viết thuộc trường Mầm Non Ánh Dương. Mọi hành vi sao chép đều là gian lận.
Nguồn chia sẻ: Trường Mầm Non Ánh Dương (mamnonanhduongvt.edu.vn)

Source: Mamnonanhduongvt.edu.vn
Category: Giáo dục

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button