Giáo dục

Suy nghĩ của em về bài thơ Mùa xuân nho nhỏ

Đề bài: Suy nghĩ của em về bài thơ Mùa xuân nho nhỏ

suy nghi cua em ve bai tho mua xuan nho nho

This post: Suy nghĩ của em về bài thơ Mùa xuân nho nhỏ

Suy nghĩ của em về bài thơ Mùa xuân nho nhỏ
 

I. Dàn ý Suy nghĩ của em về bài thơ Mùa xuân nho nhỏ (Chuẩn)

* Dàn ý 1 (Chuẩn):

1. Mở bài

– Giới thiệu khái quát về tác giả Thanh Hải (tiểu sử, những đặc điểm chủ yếu về con người, các sáng tác tiêu biểu, đặc điểm sáng tác,…)
– Giới thiệu khái quát về bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” (xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác, khái quát giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của bài thơ,…)

2. Thân bài

a. Cảm xúc của nhà thơ trước khung cảnh mùa xuân của thiên nhiên
– Bức tranh mùa xuân:
+ Nghệ thuật đảo ngữ, đưa động từ “mọc” lên đầu câu thơ đã góp phần tô đậm sức sống của bông hoa ngay giữa dòng sông.
+ Hình ảnh chọn lọc, giàu sức gợi và đậm chất xứ Huế, đó là “dòng sông xanh”, “bông hoa tím”, “chim chiền chiền”.
+ Các thán từ “ơi”, “chi” tác giả đã gợi nên một chất giọng ngọt ngào, thân thương, gần gũi.
→ Một bức tranh mùa xuân hài hòa, tươi sáng với hai gam màu tươi tắn là sắc xanh, sắc tím cùng tiếng chim chiền chiện hót vang cả nền trời
– Cảm xúc của nhà thơ:
+ Hình ảnh “giọt long lanh rơi” là một hình ảnh thơ độc đáo với nhiều cách hiểu khác nhau: Là giọt mưa của mùa xuân, là những giọt sương buổi sớm long lanh trong nắng mai và cũng có thể đó là giọt âm thanh của tiếng chim chiền chiện.
+ Điệp từ “tôi” được lặp lại hai lần đi liền với hành động “hứng” đã cho chúng ta thấy rõ thái độ trân trọng của tác giả trước vẻ đẹp của thiên nhiên.

b. Cảm xúc của nhà thơ về mùa xuân của đất nước
– Bức tranh mùa xuân của đất nước:
+ Hình ảnh “người cầm súng” và hình ảnh “người ra đồng” – hai hình ảnh biểu tượng cho hai nhiệm vụ quan trọng và cần thiết của đất nước ta là chiến đấu ở tiền tuyến và lao động, sản xuất ở hậu phương.
+ Điệp từ “mùa xuân” và điệp từ “lộc”: gợi lên quang cảnh mùa xuân tươi đẹp và cả thành quả trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước của nhân dân ta.
+ Điệp từ “tất cả” luôn đi liền với các từ láy “hối hả”, “xôn xao”: tạo nhịp thơ t nhanh, dồn dập, từ đó gợi lên một nhịp sống sôi nổi, sống động, khẩn trường trong nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước
– Cảm xúc của nhà thơ:
+ Hai tính từ “vất vả” và “gian lao” đi liền kề nhau đã khái quát chặng đường lịch sử “bốn ngàn năm” của đất nước, của dân tộc
+ Hình ảnh so sánh độc đáo “đất nước như vì sao”:

  • Gợi lên hình ảnh dân tộc Việt Nam trong suốt chặng dài lịch sử đã từ trong đêm tối của nô lệ, xiềng xích để tỏa sáng, giành độc lập
  • Thể hiện niềm tin của tác giả vào một tương lai tươi sáng, rộng mở, tràn đầy khí thế.

c. Những khát vọng và lí tưởng sống cao đẹp, đáng trân trọng của tác giả
– Lẽ sống cao đẹp mà Thanh Hải luôn muốn theo đuổi đó chính là cống hiến hết mình cho đất nước, cho cuộc đời.
+ Đại từ “ta” cùng điệp cấu trúc “ta làm…”, “ta nhập…” được đặt ở đầu ba câu thơ làm cho nhịp thơ trở nên nhẹ nhàng, sâu lắng và dường như câu thơ như một lời tâm tình, thủ thỉ của nhà thơ về ước nguyện được hóa thân, hiến dâng cho quê hương, đất nước.
+ Các hình ảnh “con chim hót”, “một cành hoa”, “một nốt trầm” – những hình ảnh giản dị, gần gũi nhưng giàu tính hàm súc và ý nghĩa biểu tượng đã góp phần làm bật nổi ước nguyện được hòa mình vào cộng đồng, vào cái chung, vào đất nước.
– Lẽ sống cao đẹp của nhà thơ được nâng tầm thành lí tưởng sống cao đẹp trong khổ thơ tiếp theo:
+ Tác giả chỉ xin được làm “một mùa xuân nho nhỏ” để góp phần làm đẹp cho mùa xuân lớn của dân tộc
+ Từ láy “nho nhỏ” cùng với tình từ “lặng lẽ” cho thấy vẻ đẹp tâm hồn của nhà thơ: hiến dâng cho đời một cách tự nguyện, cho đi không đòi hỏi sự nhận lại.
→ Đó chính là một lối sống cao đẹp, vô tư, trong sáng nhưng cũng rất giản dị và khiêm tốn của nhà thơ.
+ Nghệ thuật điệp cấu trúc “Dù là … Dù là …” và hình ảnh “tuổi hai mươi” – “khi tóc bạc” khiến cho lời thơ như một lời tự hứa, tự nhủ với chính mình và đó cũng chính là lời khẳng định của nhà thơ về sự trường tồn của lí tưởng sống mà mình theo đuổi.
– Bài thơ khép lại trong âm thanh ngọt ngào, du dương, trầm bổng của làn điệu dân ca trữ tình xứ Huế: gợi lên những mất mát, gian khổ mà dân tộc đã trải qua và cả những giai điệu về cuộc sống mới, sức sống mới của dân tộc, của quê hương, đất nước.

3. Kết bài

Khái quát lại những nét đặc sắc về giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật của bài thơ và nêu cảm nghĩ của bản thân.

* Dàn ý số 2 (Chuẩn)

1. Mở bài

– Giới thiệu về bài thơ

2. Thân bài

– Bài thơ là tình yêu thiên nhiên, tình yêu cuộc sống, yêu đất nước và khát vọng được dâng hiến cho cuộc đời.
– Ông sáng tác bài thơ khi đang trên giường bệnh, tháng 11/1980)

a. Mùa xuân của thiên nhiên trong trí tưởng tượng của nhà thơ:
– Hình ảnh mùa xuân được khắc họa trong không gian rộng lớn với hoa, dòng sông, những chú chim và cả bầu trời cao rộng:
+ Hình ảnh bông hoa: đột ngột trồi lên từ giữa mênh mông sóng nước. Động từ “mọc” đảo lên đầu câu: sự đột ngột, bất ngờ => mùa xuân đến nhanh, bất chợt.
+ Màu hoa “tím biếc”: óng ánh dưới nắng mai, màu của đóa lục bình
+ Dòng sông: trải dài, lững lờ trôi với màu xanh biếc, hình ảnh của con sông Hương
+ Chim chiền chiện: hót vang, lảnh lót gọi mùa xuân về, là người đưa tin cho mùa xuân.
+ Tiếng gọi “Ơi”: nghe tha thiết, thân thương như đối với con người
+ Nhà thơ như trách cứ, hờn dỗi với những chú chim “hót chi… trời”: chữ “chi” âm hưởng của người con xứ Huế.
+ “Từng giọt …hứng”: Tiếng chim trên cao như cô đọng lại thành từng giọt, sóng sánh rơi xuống mặt đất , nhà thơ đưa tay hứng về (giọt mật của mùa xuân).
+ Hành động “đưa …về”: sự nâng niu, trân trọng từng hạt của mùa xuân.
+ Nghệ thuật chuyển đổi cảm giác: mùa xuân như một vật thể hữu hình mà con người có thể sờ vào, chạm vào và nếm thử.
=> Hành động hứng giọt mùa xuân của nhà thơ là hành động của một con người với tình yêu thiết tha với thiên nhiên, muốn được tận hưởng mùa xuân từ những giây phút đầu tiên.
=> Bức tranh thiên nhiên mùa xuân được Thanh Hải dựng lên trong niềm yêu thương tha thiết. Ông đã mường tượng mùa xuân của thiên nhiên trong trí tưởng tượng của mình, của quê hương với những gì thân thuộc, gần gũi và giản dị nhất.

b. Bức tranh mùa xuân của đất nước trong thời kì xây dựng:
– Mùa xuân của đất nước thể hiện qua hai nhiệm vụ với hai hình ảnh “người cầm súng” và “người ra đồng”.
+ Mùa xuân của người cầm súng: là những cành lộc non giắt trên lưng áo ngụy trang (hình ảnh “lộc”: mầm non của cây, là sự sinh sôi, sức sống mãnh liệt).
+ Mùa xuân của người ra đồng: lộc non của lá mạ non trong công cuộc sản xuất, làm hậu phương cho “người cầm súng”.
=>Sản xuất và chiến đấu luôn song hành với nhau để cùng nhau đưa đất nước phát triển => hai nhiệm vụ hòa làm một.
+ “tất cả …xôn xao”: hai từ láy liên tiếp diễn tả sự mau lẹ, gấp gáp. Điệp từ “tất cả như”: tất cả hòa chung lại trong không khí khẩn trương.
+ Nhịp thơ ở khổ này có tiết tấu nhanh, hối thúc người đọc
=> Hình ảnh của đất nước trong thời kỳ đổi mới, không còn chiến tranh.
– Sự hồi tưởng của tác giả về dòng lịch sử của đất nước:
+ Nhịp thơ chậm rãi như cuốn phim tua ngược, kể về trang lịch sử hào hùng 4000 năm của đất nước
+ Những “vất vả và gian lao” mà dân tộc ta đã trải qua từ thời Hùng Vương dựng nước và gần đây là hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ.
=> Niềm tự hào dân tộc về công cuộc giữ gìn Tổ quốc
+ Hình ảnh so sánh “Đất nước …trước”: Niềm tự hào về một dân tộc luôn tỏa sáng, như một vì sao kiên trung trên bầu trời rộng lớn
=> Bức tranh mùa xuân đất trời được Thanh Hải truyền tải bằng tất cả sự trân trọng và tự hòa sâu sắc nhất đồng thời ông cũng lạc quan về tương lai của đất nước, sự vươn lên vững mạnh của dân tộc ta.

c. Ước nguyện và khát vọng chân thành, giản dị của nhà thơ:
– Động từ “ta làm” lặp lại liên tiếp khẳng định khao khát tột cùng muốn được cống hiến hết mình cho cuộc đời dù chỉ là những vật nhỏ nhoi “con chim hót”, “một cành hoa”, “một nốt trầm”.
– Nhà thơ muốn được trở thành con chim cống hiến tiếng hót cho cuộc đời, trở thành hoa để tỏa hương thơm, làm một nốt trầm nhỏ bé giữa bản nhạc của cuộc đời.
– Dù ở thời gian nào, lúc nào cũng luôn muốn được cống hiến “Dù là …bạc”.
=>Tình yêu cuộc sống được thể hiện mãnh liệt, khát vọng cháy bỏng của nhà thơ, dù đang trên giường bệnh nhưng ông vẫn muốn đc cống hiến hết mình
– Niềm tự hào về quê hương của một người con xứ Huế:
+ Kết lại bài thơ là hai làn điệu dân ca đặc trưng của xứ Huế: Nam ai Nam bình
+ Điệu Nam ai buồn thương, điệu Nam bình dịu dàng , trìu mến, được gõ trên nền nhịp “phách tiền”
=> Thể hiện sự gắn bó khăng khít với quê hương, dù lúc nào, ông cũng luôn hướng về quê hương của mình.

d. Nghệ thuật:
– Thể thơ năm chữ kết hợp với những hình ảnh đẹp, giản dị, hình ảnh so sánh, ẩn dụ sáng tạo.
– Nhịp thơ uyển chuyển linh hoạt, trên nền xúc cảm của nhà thơ.

3. Kết bài
– Khẳng định lại ý nghĩa của bài thơ và suy nghĩ của mình
– Bài thơ là tình yêu cuộc sống tha thiết và khát vọng cống hiến cho đời cháy bỏng của nhà thơ.

 

II. Bài văn mẫu Suy nghĩ của em về bài thơ Mùa xuân nho nhỏ 

1. Suy nghĩ của em về bài thơ Mùa xuân nho nhỏ, mẫu số 1 (Chuẩn)

Mùa xuân là đề tài muôn thuở của thi ca, nhạc họa với nhiều tác phẩm, tác giả nổi tiếng với phong cách sáng tạo riêng. Và nhà thơ Thanh Hải cũng góp sức mình làm đẹp, làm phong phú thêm cho bức tranh xuân ấy bằng những vần thơ nhẹ nhàng, sâu lắng, giàu nhạc điệu cùng cảm xúc chân thành, đằm thắm của mình qua bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ”. Đọc bài thơ, người đọc không chỉ được đắm mình trong mùa xuân của thiên nhiên, đất nước mà còn thấy được lẽ sống cao đẹp của nhà thơ.

Mở đầu bài thơ, tác giả đã vẽ nên một bức tranh mùa xuân của thiên nhiên trong trẻo và tràn đầy sức sống.

Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc
Ơi con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời

Ngay từ câu thơ mở đầu bài thơ, tác giả đã sử dụng nghệ thuật đảo ngữ, đưa động từ “mọc” lên đầu câu thơ đã góp phần tô đậm sức sống của bông hoa ngay giữa dòng sông xanh – một bông hoa tràn đầy cả sức xuân và sắc xuân. Không chỉ dừng lại ở hình ảnh bông hoa tràn đầy sức sống giữa dòng nước xanh thẳm, bức tranh mùa xuân nơi xứ Huế còn hiện lên thật rõ nét qua những hình ảnh chọn lọc, giàu sức gợi và đậm chất xứ Huế, đó là “dòng sông xanh”, “bông hoa tím”, “chim chiền chiền”. Tất cả những hình ảnh ấy quyện hòa vào nhau vẽ nên một bức tranh mùa xuân hài hòa, tươi sáng với hai gam màu tươi tắn là sắc xanh, sắc tím cùng tiếng chim chiền chiện hót vang cả nền trời. Đặc biệt, với việc sử dụng các thán từ “ơi”, “chi” tác giả đã gợi nên một chất giọng ngọt ngào, thân thương, gần gũi. Và để rồi, trước bức tranh màu xuân hài hòa và tràn đầy sức sống ấy, tác giả cũng phải ngỡ ngàng, xao xuyến đến say sưa.

Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng

Có thể nói, hình ảnh “giọt long lanh rơi” là một hình ảnh thơ độc đáo và tràn đầy sức gợi với nhiều cách hiểu khác nhau. “Giọt long lanh rơi” có thể là giọt mưa của mùa xuân, là những giọt sương buổi sớm long lanh trong nắng mai và cũng có thể đó là giọt âm thanh của tiếng chim chiền chiền vang vọng đâu đó để rồi đọng lại thành từng giọt, từng giọt trong vắt và “long lanh”. Và có lẽ dẫu hiểu theo cách nào đi chăng nữa thì hình ảnh “giọt long lanh rơi” cũng góp phần điểm tô cho bức tranh màu xuân xứ Huế thêm đẹp, thêm tràn trề nhựa sống, để thi nhân vội vàng đưa đôi bàn tay để hứng lấy. Điệp từ “tôi” được lặp lại hai lần đi liền với hành động “hứng” đã cho chúng ta thấy rõ thái độ trân trọng của tác giả trước vẻ đẹp của thiên nhiên. Như vậy, chỉ với vài nét vẽ đơn giản, đan xen một chút chất nhạc, tác giả Thanh Hải đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên mùa xuân đậm chất xứ Huế, có đủ cả màu sắc, hình ảnh, âm thanh và từ đó, bộc lộ niềm say mê của tác giả trước vẻ đẹp của thiên nhiên khi xuân tới.

Không chỉ dừng lại ở việc khám phá vẻ đẹp thiên nhiên của mùa xuân, “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải còn gợi lên trong lòng người đọc vẻ đẹp của mùa xuân đất nước.

Mùa xuân người cầm súng
Lộc giắt đầy quanh lưng
Mùa xuân người ra đồng
Lộc trải dài nương mạ
Tất cả như hối hả
Tất cả như xôn xao…

Dường như, ở đây, tác giả đã cảm nhận mùa xuân của đất nước qua hình ảnh “người cầm súng” và hình ảnh “người ra đồng” – hai hình ảnh biểu tượng cho hai nhiệm vụ quan trọng và cần thiết của đất nước ta lúc bấy giờ là chiến đấu ở tiền tuyến và lao động, sản xuất ở hậu phương. Đặc biệt, trong đoạn thơ, điệp từ “mùa xuân” và điệp từ “lộc” được tác giả lặp lại nhiều lần đã gợi lên trước mắt người đọc quang cảnh mùa xuân tươi đẹp như những chồi non đang đua nhau nảy lộc và những điều đó đã góp phần gợi lên thành quả trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước của nhân dân ta. Thêm vào đó, điệp từ “tất cả” luôn đi liền với các từ láy “hối hả”, “xôn xao” làm cho nhịp thơ trở nên nhanh, dồn dập, từ đó gợi lên một nhịp sống sôi nổi, sống động, khẩn trường trong nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước. Và để rồi trước vẻ đẹp, sức sống của mùa xuân đất nước, tác giả đã bày tỏ niềm tự hào và niềm tin vào tương lai tươi sáng, tốt đẹp hơn.

Đất nước bốn ngàn năm
Vất vả và gian lao
Đất nước như vì sao
Cứ đi lên phía trước

Với hai tính từ “vất vả” và “gian lao” đi liền kề nhau đã khái quát chặng đường lịch sử “bốn ngàn năm” của đất nước, của dân tộc. Đấy là một chặng đường đầy những khó khăn, gian lao, với bao đau thương, mất mát nhưng nó cũng đã góp phần khẳng định sức sống, ý chí và bản lĩnh của dân tộc, của đất nước. Đặc biệt, hình ảnh so sánh độc đáo “đất nước như vì sao” không chỉ gợi lên hình ảnh dân tộc Việt Nam trong suốt chặng dài lịch sử đã từ trong đêm tối của nô lệ, xiềng xích để tỏa sáng, giành độc lập mà qua đó còn gợi lên niềm tin của tác giả vào một tương lai tươi sáng, rộng mở, tràn đầy khí thế và có lẽ niềm tin ấy của tác giả càng được thể hiện rõ nét qua cụm từ “cứ đi lên” trong câu thơ cuối cùng của đoạn thơ.

Trước vẻ đẹp của mùa xuân thiên nhiên và mùa xuân đất nước, nhà thơ Thanh Hải đã bày tỏ những lời nguyện ước, những khát vọng và lí tưởng sống cao đẹp của mình. Trước hết, lẽ sống cao đẹp mà Thanh Hải luôn muốn theo đuổi đó chính là cống hiến hết mình cho đất nước, cho cuộc đời.

Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến

Đại từ “ta” cùng điệp cấu trúc “ta làm…”, “ta nhập…” được đặt ở đầu ba câu thơ làm cho nhịp thơ trở nên nhẹ nhàng, sâu lắng và dường như câu thơ như một lời tâm tình, thủ thỉ của nhà thơ về ước nguyện được hóa thân, hiến dâng cho quê hương, đất nước. Thêm vào đó, đoạn thơ còn sử dụng hệ thống các hình ảnh “con chim hót”, “một cành hoa”, “một nốt trầm” – những hình ảnh giản dị, gần gũi nhưng giàu tính hàm súc và ý nghĩa biểu tượng đã góp phần làm bật nổi ước nguyện được hòa mình vào cộng đồng, vào cái chung, vào đất nước để làm nên vẻ đẹp của mùa xuân, của đất nước trong lòng tác giả. Đồng thời, từ khát vọng sống cao quý ấy, tác giả đã nâng tầm lên thành một lí tưởng sống cao cả của mình:

Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc

Tác giả chỉ xin, chỉ ước mong được làm “một mùa xuân nho nhỏ” để góp phần làm đẹp cho mùa xuân lớn của dân tộc và có lẽ đây chính là một hình ảnh ẩn dụ độc đáo và đặc sắc của nhà thơ. Từ láy “nho nhỏ” cùng với tình từ “lặng lẽ” cho thấy vẻ đẹp tâm hồn của nhà thơ. Mùa xuân của Thanh Hải không ồn ào, náo nhiệt mà chỉ lặng lẽ hiến dâng cho đời một cách tự nguyện, cho đi không đòi hỏi sự nhận lại. Đó chính là một lối sống cao đẹp, vô tư, trong sáng nhưng cũng rất giản dị và khiêm tốn của nhà thơ. Đặc biệt, với nghệ thuật điệp cấu trúc “Dù là … Dù là …” và hình ảnh “tuổi hai mươi” – “khi tóc bạc” khiến cho lời thơ như một lời tự hứa, tự nhủ với chính mình và có lẽ đó cũng chính là lời khẳng định của nhà thơ về sự trường tồn của lí tưởng sống mà mình theo đuổi. Như vậy, nhà thơ đã tự tổng kết về cuộc đời mình thật giản dị, khiêm tốn, nhưng đó là một cuộc đời thật đẹp, thật đáng trân trọng và đáng để chúng ta suy ngẫm, học tập.

Bài thơ khép lại trong âm thanh ngọt ngào, du dương, trầm bổng của làn điệu dân ca trữ tình xứ Huế.

Mùa xuân ta xin hát
Câu Nam ai, Nam bình
Nước non ngàn dặm mình
Nước non ngàn dặm tình
Nhịp phách tiền đất Huế

Khổ thơ như dẫn người đọc về với xứ Huế thân thương với biết bao làn điệu dân ca trìu mến và để rồi trong những câu ca ngọt ngào, nhẹ nhàng và sâu lắng ấy chúng ta cảm nhận thấy cả những mất mát, gian khổ mà dân tộc đã trải qua và hơn hết, qua đó cũng gợi lên trong chúng ta giai điệu về cuộc sống mới, sức sống mới của dân tộc, của quê hương, đất nước.

Tóm lại, với thể thơ năm chữ cùng ngôn ngữ, hình ảnh thơ giản dị, trong sáng, bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải đã vẽ nên bức tranh tuyệt đẹp về mùa xuân của thiên nhiên, của đất nước và qua đó bày tỏ lẽ sống cao đẹp, đáng được trân trọng của nhà thơ.

2. Suy nghĩ của em về bài thơ Mùa xuân nho nhỏ, mẫu số 2 (Chuẩn):

Mùa xuân là mùa của vạn vật sinh sôi, mùa của cây lá, hoa cỏ, mùa của thiên nhiên, đất trời và con người. Mùa xuân là khởi đầu của mọi điều tốt đẹp nhất trong cuộc sống. Có lẽ vì vậy, khi nhà thơ Thanh Hải phải nằm yên một chỗ trên giường bệnh, ông lại càng tha thiết về mùa xuân nhiều tới như thế. Bởi đó là tình yêu cuộc sống tha thiết, yêu thiên nhiên, yêu Tổ quốc của mình, và cũng là khát vọng có được một mùa xuân nữa của cuộc đời để cống hiến cho cuộc sống, cho đất nước của mình. Tất cả những điều đó là ý nghĩa của bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của tác giả Thanh Hải muốn gửi đến mọi người qua tác phẩm cùng tên của mình.

Mùa đông năm 1980, nhà thơ Thanh Hải phải nằm trên giường bệnh. Thế nhưng, trong tâm hồn ông vẫn khao khát được hướng ra ngoài thế giới ngoài cửa sổ, nơi mà vạn vật đang chìm trong giấc ngủ đông say sưa. Tình yêu cuộc sống tha thiết, tình yêu nước nồng nàn và ước nguyện, khát khao có thêm một mùa xuân tuổi trẻ để cống hiến đã thôi thúc ông viết lên một bài thơ về mùa xuân, bài thơ đó chính là Mùa xuân nho nhỏ. Cả bài thơ là những cảm xúc của ông trước mùa xuân của thiên nhiên, mùa xuân của đất trời và sâu thẳm là khát vọng mãnh liệt của ông. 

Nếu như trong bài thơ Thơ xuân của mình, Nguyễn Bính giới thiệu về mùa xuân:

Đây cả mùa xuân đã đến rồi
Từng nhà mở cửa đón vui cười

Thì trong thơ của Thanh Hải, mùa xuân chẳng đến trực tiếp trong lời giới thiệu của nhà thơ mà lại đến bằng những dấu hiệu đặc trưng:

“Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc
Ơi con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng”

Cả một bức tranh mùa xuân của thiên nhiên được mở ra trước mắt người đọc chúng ta với hoa, với dòng sông xanh, với những chú chim và với bầu trời cao rộng nữa. Phải nhớ rằng, khi viết bài thơ này, Thanh Hải đang nằm dưỡng bệnh tại nhà và khoảng thời gian lại là tháng 11/1980, là mùa đông, thế nhưng, ông lại có thể cho người đọc thấy được mùa xuân trong trí tưởng tượng của mình.

Không miêu tả toàn cảnh mùa xuân đến, Thanh Hải lại dùng một vài nét chấm phá để vẽ lên bức tranh mùa xuân của mình. Một bông hoa “mọc” lên, trồi lên đột ngột giữa dòng sông xanh trải dài báo hiệu cho nàng xuân đang tới. Những chú chim chiền chiện trên cao cất tiếng hót vang, lảnh lót mời gọi mùa xuân về. Tất cả chỉ là những nét chấm rất nhẹ trên nền trời cao rộng, thế nhưng người đọc chúng ta lại có thể thấy cả một mùa xuân tươi vui, rộn rã đang từ từ đến bên. 

Ở trong dòng đầu tiên của bài thơ này, nhà thơ Thanh Hải đã rất độc đáo khi đảo động từ “mọc” lên đầu câu thơ, giữ nó ngay vị trí đầu tiên khi bắt đầu bài thơ. Điều đó khiến chúng ta khi đọc câu thơ lên như cảm thấy thật đột ngột, thật bất ngờ, thấy mùa xuân như bất chợt đến mà chẳng hề báo trước. Và rồi màu “tím biếc” của đóa hoa nhỏ bé giữa dòng sông, phải chăng đó là màu tím của đóa lục bình đang lững lờ trôi theo dòng sông Hương mềm mại uốn mình, óng ánh lên giữa màu nắng mai của mùa xuân? Và kìa trên cao, những chú chim chiền chiện – kẻ báo tin của mùa xuân đang tung cánh mà vẫy gọi. Tiếng “ơi” ở đầu câu thơ thứ ba như là lời gọi thiết tha, thân mật của tác giả với những chú chim, bởi chúng là bạn, là những người đưa tin đầy tinh nhạy. Những chú chim ấy cứ cất tiếng hót lảnh lót khiến cho nhà thơ càng bồi hồi, càng mong ngóng mùa xuân mà xúc động, đến nỗi, ông cất lời mà trách cứ hờn dỗi chúng rằng:

“Hót chi mà vang trời”

Lời trách cứ ấy thật đậm phong vị của một người con xứ Huế! Ông trách chúng bởi tiếng hót ấy khiến ông thật muốn bước ra ngoài kia mà tận hưởng cái khoảnh khắc của mùa xuân đang sang ấy.

Tiếng chim trên cao tầng ấy không chỉ gọi mà xuân về, khiến người ta phải bồi hồi, xốn xang mà còn như đang cô đặc lại thành hạt, lóng lánh rơi xuống mặt đất. Phải chăng đó là giọt mật của mùa xuân, giọt mật ngọt của đất trời gieo mầm xuống cây lá? Từng giọt mật ngọt ngào ấy cứ lặng lẽ buông mình rơi xuống thế gian và nhà thơ như bất chợt đưa đôi tay “hứng về”. Cái động tác đầy sự nâng niu, trân trọng ấy thì chúng ta cũng có thể thấy rằng ông yêu mùa xuân, yêu thiên nhiên, đất trời biết bao nhiêu. Ở đây, Thanh Hải đã đặc biệt sử dụng nghệ thuật chuyển đổi cảm giác, ông đã biến mùa xuân thành một thực thể hữu hình, một thứ mà con người có thể cầm nắm, chạm vào và nếm thử một cách đầy thích thú. Cái hành động ấy của ông như muốn được tự mình tận hưởng cảm giác mùa xuân lan tới tận sâu trong tâm hồn mình, ông muốn được tận hưởng những giọt xuân đầu tiên, để mùa xuân thấm thật sâu vào cơ thể. Phải là một người yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống sâu sắc, ông mới mong muốn được chạm vào mùa xuân đến vậy, chạm vào ngay từ những giây phút đầu tiên!

Bức tranh mùa xuân của Thanh Hải được dựng lên trong niềm yêu cuộc sống và thiên nhiên tha thiết. Nằm trên giường bệnh, giữa mùa đông, khi khắp nơi là băng giá bao trùm, vậy mà ông vẫn có thể mường tượng ra mùa xuân trên quê hương với những gì thân thuộc và bình yên nhất. Thế mới thấy, Thanh Hải yêu quê hương mình, yêu cuộc sống, hướng về quê hương và khao khát được rời khỏi giường bệnh để bước ra ngoài kia tận hưởng cái không khí mùa xuân với bao màu sắc tươi đẹp đến thế nào!

Mùa xuân đang bừng lên với không khí náo nức, không chỉ là mùa xuân của thiên nhiên mà còn là mùa xuân của đất nước – một đất nước non trẻ đang chuyển mình trong thời kì xây dựng nữa.

“Mùa xuân người cầm súng
Lộc giắt đầy trên lưng
Mùa xuân người ra đồng
Lộc trải dài nương mạ
Tất cả như hối hả
Tất cả như xôn xao

Đất nước bốn ngàn năm
Vất vả và gian lao
Đất nước như vì sao
Cứ đi lên phía trước”

Một mùa xuân mới bắt đầu với mọi người, với vạn vật và với cả những con người làm cách mạng nữa. Vì khi đó, đất nước của chúng ta đang trong giai đoạn chuyển mình với những kế hoạch chiến đấu và sản xuất mới. Vậy nên, hai nhiệm vụ chính được đặt ra trong thời kì này là chiến đẩu và đẩy mạnh sản xuất, chính vì vậy mùa xuân của đất nước được Thanh Hải thể hiện qua hai nhiệm vụ chính với hai hình ảnh “người cầm súng” và “người ra đồng”. 

Mùa xuân tới, những cành lộc non bắt đầu đâm chồi nảy lá, những chồi non xanh biếc ấy không chỉ là sự sinh sôi của cây cối mà còn tượng trưng cho sự sinh sôi, niềm hy vọng và sức sống mãnh liệt của con người. Vậy nên, mùa xuân của những người lính đang phải cầm súng bảo vệ quê hương là những cành lộc non giắt quanh lưng, những cành lá ngụy trang che mắt quân thù. Và mùa xuân của những người con hậu phương là những cánh đồng bát ngát với những lá lúa non đang trổ mình. Hai nhiệm vụ riêng biệt nhưng lại gắn bó song hành với nhau để cùng nhau đưa đất nước phát triển, tiến lên thật tươi đẹp.

Mùa xuân của thiên nhiên đang hòa mình với mùa xuân của đất nước để “hối hả”, để “xôn xao” bước lên kỷ nguyên mới. Khoảnh khắc giao hòa này, mọi người, mọi vật cũng gấp gáp chuyển mình với một sự khẩn trương mau lẹ:

“Tất cả như hối hả
Tất cả như xôn xao”

Mùa xuân ngoài kia rạo rực quá, con người và vạn vật cũng náo nức theo lên. Hai từ láy liên tiếp “hối hả”, “xôn xao” trong hai câu thơ liên tiếp như diễn tả sự gấp gáp, mau lẹ, khẩn trưởng của tất cả. Cùng với đó là điệp từ “tất cả như” diễn tả nhịp điệu khẩn trương, cả đất trời, con người đang giao hòa thật gấp gấp, thật “hối hả”. Phải rồi, đất nước đang đổi mới từng ngày, không còn chiến tranh, chỉ còn công cuộc xây dựng đất nước, thiên nhiên cũng đổi mới, tại sao có thể không khẩn trương được cơ chứ? Ở đây, Thanh Hải cũng sử dụng nhịp thơ thật nhanh như hối thúc người đọc chúng ta bước vào, hòa mình cùng mùa xuân ấy. Phải chăng, chính tác giả cũng đang “hối hả” khi chứng kiến sự thay da đổi thịt của quê hương mình?

Thế nhưng, nếu những dòng thơ trên là nhịp điệu dồn dập, nhịp điệu với tất cả sự khẩn trương nhất thì bốn câu thơ tiếp sau lại là sự chậm rãi như đang kể chuyện:

” Đất nước bốn ngàn năm
Vất vả và gian lao
Đất nước như vì sao
Cứ đi lên phía trước”

Với một nhịp thơ thật chậm rãi, Thanh hải như đang tua ngược lại quá khứ của bốn ngàn năm lịch sử dựng và giữ nước của cha ông ta. Ông đang hồi tưởng về những trang lịch sử hào hùng nhất, về những bà Trưng, bà Triệu, về những Trần Hưng Đạo trong cuộc chiến chống quân Nguyên – Mông, …. Những trang lịch sử ấy đã trải qua với biết bao khó khăn, “vất vả và gian lao”, từ thời cha ông ta dựng nước của Hùng Vương, tới tận hôm nay là hai cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại chống Mỹ và chống Pháp. Thanh Hải hiểu và cảm thông trước những gian lao mà đất nước ta đã đi qua, thế nhưng, Tổ quốc Việt Nam ta có trải qua bao khó khăn đi chăng nữa thì vẫn vững vàng tiến lên về phía trước như một vì sao chói sáng. Cả dân tộc ta “rũ bùn đứng dậy sáng lòa”, cùng nắm tay nhau xây dựng Tổ quốc mới. 

Ẩn sâu trong từng câu chữ là niềm tự hào sâu sắc, to lớn của nhà thơ trước Tổ quốc, quê hương mình. Niềm tự hào về một dân tộc mạnh mẽ, “như vì sao” giữa đêm trường thăm thẳm vẫn sáng chói kiên trung giữa bầu trời rộng lớn dù ở trong bất cứ hoàn cảnh nào.

Bức tranh về mùa xuân quê hương dược Thanh Hải truyền tải với tất cả sự trân trọng và tự hào sâu sắc nhất. Mùa xuân của dân tộc cũng là mùa xuân của những người đang hối hả cùng nhau xây dựng và bảo vệ Tổ quốc với bốn ngàn năm lịch sử thăng trầm nhưng vẫn vững vàng. Thanh Hải lạc quan tin vào tương lai tươi sáng phía trước với sự vươn mình mạnh mẽ của đất nước Việt Nam.

Yêu cuộc sống, yêu Tổ quốc là thế, vậy mà giờ đây, ông phải nằm trên giường bệnh, chẳng thể cống hiến cho cuộc đời một chút sắc hương. Thế nên, những dòng thơ cuối, ông đã dành trọn để truyền tải ước nguyện và khát vọng chân thành của mình là được cống hiến hết mình cho cuộc đời:

“Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Một nốt trầm xao xuyến
Ta nhập vào hòa ca”

Nhịp thơ ở đây lại đột nhiên gấp gáp, bởi Thanh Hải đang muốn bày tỏ quá nhiều điều. Ông muốn được dâng mình lên, thêm vào cuộc đời chút sắc hương tươi thắm dù chỉ là những vật tầm thường bé nhỏ như một chú chim, một cành hoa nhỏ, một nốt trầm giữa bản nhạc cuộc đời. Một khổ thơ bốn dòng mà Thanh Hải liên tiếp sử dụng điệp từ “ta làm” như muốn khẳng định cái khát khao tột cùng của mình. Mùa xuân đã về bên kia khung cửa, nhà thơ chỉ muốn đóng góp vào mùa xuân ấy, được hòa mình vào mùa xuân ấy một lần nữa bằng tất cả sức lực của mình. Chỉ cần thế thôi, ta cũng biết được tình yêu đời, yêu cuộc sống của ông tha thiết biết bao! Chẳng cần chi những thứ to lớn, ông chỉ ước được làm “một nốt trầm” bé nhỏ giữa bản hòa ca tươi vui của mùa xuân, của cuộc đời.

Ông ước nguyện mình được trở thành “một mùa xuân nho nhỏ”, lặng lẽ, yên tĩnh mà dâng mình lên cho cuộc đời, cho Tổ quốc, không cần hào nhoáng, cũng chẳng cần tôn vinh. Dù là ở bất cứ thời điểm nào, ông cũng muốn được cống hiến hết mình. Điệp từ “dù là” như khẳng định cái mong ước giản đơn ấy của tác giả.

Chỉ với hai khổ thơ, tám dòng thơ ngắn ngủi nhưng lại hàm chứa bao nhiêu là cảm xúc mà tác giả muốn gửi gắm. Đó là tình yêu cuộc đời, yêu thiên nhiên, yêu Tổ quốc, là khát vọng được cống hiến cho cuộc đời dù ở bất cứ giai đoạn nào “dù là khi hai mươi/ Dù là khi tóc bạc”, dù là giờ đây ông phải nằm trên giường bệnh, nhưng chưa bao giờ ông thôi khao khát được cống hiến hết mình cho cuộc đời. Mỗi con người đều có một mùa xuân của riêng mình để đóng góp cho mùa xuân của đất nước.

Khép lại bài thơ, Thanh Hải lại trở về là người con xứ Huế, cất lên khúc ca giai điệu của xứ Huế mộng mơ: Hai khúc Nam ai Nam bình. Hai khúc ca một trầm buồn, một dịu dàng trìu mến như dìu dặt ru êm tâm hồn con người ta. Hai điệu dân ca được hát trên nền nhịp “phách tiền” đặc trưng của Huế. Thế mới biết, Thanh Hải yêu và tự hào về quê hương mình biết bao. Bởi cái khúc ca ấy đã ăn sâu vào tâm hồn ông, gắn bó với ông thân thuộc, để bất cứ khi nào cũng có thể bật lên, âm vang trong trí nhớ của ông.

Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ được viết bằng thể thơ năm chữ với giai điệu thật trong sáng, thiết tha, Thanh Hải đã sử dụng những hình ảnh quen thuộc, gần gũi mà bình dị, với những so sánh, ẩn dụ thật sáng tạo để tạo nên bài thơ này.

Mùa xuân nho nhỏ là khúc ca chứa đựng cảm xúc của nhà thơ Thanh Hải trước mùa xuân của thiên nhiên của đất nước, hòa trong đó là khát vọng, ước nguyện chân thành của một con người luôn khao khát được cống hiến, được góp một “mùa xuân nho nhỏ” vào mùa xuân lớn của dân tộc.

———————-HẾT———————–

Trên đây là nội dung bài Suy nghĩ của em về bài thơ Mùa xuân nho nhỏ, để có những cảm nhận chân thực nhất về vẻ đẹp cũng như giá trị của bài thơ, các em cùng tham khảo thêm một số bài văn khác như: Cảm nhận tình yêu thiên nhiên của người thi nhân qua bài thơ Mùa xuân nho nhỏ, Phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ, Phân tích khổ đầu bài Mùa xuân nho nhỏ, Suy nghĩ của em về bài thơ Mùa xuân nho nhỏ.

Bản quyền bài viết thuộc trường Mầm Non Ánh Dương. Mọi hành vi sao chép đều là gian lận.
Nguồn chia sẻ: Trường Mầm Non Ánh Dương (mamnonanhduongvt.edu.vn)

Source: Mamnonanhduongvt.edu.vn
Category: Giáo dục

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button